Share This Post

Công nghệ

Truy thu tiền bảo hiểm thất nghiệp hai tháng thử việc

Có một vấn đề này mình chưa hiểu rõ, nhờ cộng đồng hỗ trợ giúp về vấn để truy thu số tiền đóng bảo hiểm trong hai tháng thử việc tại công ty sau khi nghỉ việc.

Mình làm cho một công ty vốn nước ngoài, sau khi nghỉ việc mình xin hưởng trợ cấp thất nghiệp trong 03 tháng. Tuy nhiên một vài người bạn cùng làm ở công ty đã mách nước lấy nốt số tiền bảo hiểm của hai tháng thử việc theo đúng quy định của luật lao động (Theo điều 48 bộ luật lao động) và Nghị định số 05/2015/NĐ-CP của Chính phủ. 

Sau khi nộp đơn xin truy thu số tiền bảo hiểm trong 02 tháng thử việc mình đã được công ty hoàn trả lại khoản tiền đó, mình không biết chính xác là bao nhiêu %, nhưng mọi người bảo được khoảng 25% lương cơ bản của hai tháng thử việc. 

Tuy nhiên mình vẫn chưa hiểu rõ vấn đề lắm, post bài lên đây để hỏi các anh chị nhân sự, kế toán có kinh nghiệm giải thích cho mình hiểu, tại sao lại lấy được số tiền đó và phải chăng công ty nào cũng ăn chặn tiền bảo hiểm của 2 tháng thử việc của nhân viên.

Tham khảo điều 48 luật lao động có ghi: 

Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

Den led xe may chinh hang owleye m502Đèn led xe máy.

Là mẫu đèn led chính hãng Owleye dành riêng cho xe máy, chuẩn tiêu cự, gom sáng, chiếu xa 200M, không gây chói mắt cho người đi đường…
Xem thông số sản phẩm

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Xét theo điều luật này thì người SDLD phải có trách nhiệm đóng bảo hiểm cho người LD trên tổng thời gian làm việc, tức là kể từ khi NLD bắt đầu làm việc (được tính cả thử việc).

Điều 14 nghị định 05/2015/NĐ-CP.

Điều 14. Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm

1. Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật Lao động cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 Điều 36 và người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Lao động.

2. Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp mất việc làm theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật Lao động cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên bị mất việc làm do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại Khoản 10 Điều 36, Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật Lao động.

3. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó:

a) Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;

(Mọi người đọc thêm nhé)

Đây là chi tiết về những thông tin và chính sách của bộ luật lao động. Vậy theo cách mình hiểu đó là người SDLD phải có trách nhiệm đóng BH cho người LD kể từ khi bắt đầu vào làm tại công ty (kể cả hai tháng thử việc), nếu công ty không làm như vậy để cắt bớt khoản đó người lao động có quyền khiếu nại và đòi lại khoản đó khi hưởng trợ cấp thất nghiệp từ phía doanh nghiệp.

Mình post bài này thứ nhất để mình có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này, mình làm theo hướng dẫn đã lấy được nốt khoản tiền trên, tuy nhiên mình không phải là kế toán hay nhân sự nên hiểu không được nhiều. Và cũng muốn thông tin đến các bạn gặp trường hợp như mình có thể lấy nốt khoản tiền doanh nghiệp đang “ăn chặn” từ phía các bạn.

Share This Post

2 Comments

  1. Theo mình hiểu như sau:
    Theo điều 48 có ghi rõ: Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

    Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;”
    Tuy nhiên khi làm đề xuất hưởng trợ cấp thất nghiệp tại các trung tâm việc làm họ chỉ tính trợ cấp cho bạn trong khoảng thời gian bạn được đóng bảo hiểm chính thức. Mà theo đúng quy định thì công ty phải đóng bảo hiểm cho bạn trên tổng quãng thời gian làm việc (bao gồm cả thử việc). Do vậy bạn có thể bị mất đi hai tháng đóng bảo hiểm trong quá trình thử việc. Và bạn có thể đòi lại công ty số tiền này. Có mẫu đơn đó, bạn lên mạng tìm kiếm nhé. Nếu các công ty làm đúng luật họ sẵn sàng chi trả cho bạn.

  2. Theo Bộ luật lao động 2012 thì người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thỏa thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc. Hợp đồng thử việc phải có các nội dung: tên và địa chỉ người sử dụng lao động hoặc của người đại diện hợp pháp; họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, địa chỉ nơi cư trú, số chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp pháp khác của người lao động; công việc và địa điểm làm việc; thời hạn của hợp đồng lao động; Mức lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác; chế độ nâng bậc, nâng lương; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; trang bị bảo hộ lao động cho người lao động và không bao gồm nội dung về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế. Như vậy thì thời gian thử việc theo hợp đồng thử việc, người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội.
    Do vậy bạn nên đọc kỹ hợp đồng thử việc. Người sử dụng lao động có quyền không đóng BH cho bạn trong quá trình thử việc nếu trong hợp đồng có điều khoản này.

Leave a Reply